Nâng tầm giá trị hạt gạo Việt

Thứ hai - 18/02/2019 16:32
Trong suốt những năm qua, ngành lúa gạo Việt Nam đã khẳng định được niềm tự hào, cụ thể: Xuất khẩu trên 150 nước, năng suất lúa tăng từ 40,2 tạ/ha năm 1995 lên 67 tạ/ha vụ Đông Xuân năm 2018. Tuy nhiên, vẫn còn đó những trăn trở khi lợi nhuận của người trồng lúa thấp hơn Thái Lan 2,7 lần, Indonesia 1,5 lần.
Mới đây, việc Chính phủ đã thay thế Nghị định 107/2018/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo, thay thế Nghị định 109/2010/NĐ-CP trước đây đã tạo ra sự thay đổi lớn về tư duy xuất khẩu nhằm hướng tới mục tiêu XK gạo bền vững. Bên cạnh đó, Chính phủ còn ban hành Chiến lược phát triển thị trường XK gạo Việt Nam giai đoạn 2017 – 2020, định hướng đến năm 2030; trong đó, phân giao cho các bộ, ngành, hiệp hội và các cơ quan liên quan những nhiệm vụ cụ thể. Trong khi đó, Bộ Công Thương đang đẩy mạnh triển khai các nhiệm vụ trong nghị định này. Đáng lưu ý, một hoạt động nữa được Bộ Công Thương đẩy mạnh triển khai là xúc tiến thương mại, bao gồm cả tìm kiếm thị trường, tìm kiếm thông tin phục vụ cho hoạt động xuất khẩu gạo. Theo đó, định hướng chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo với quy mô, cơ cấu thị trường và cơ cấu sản phẩm xuất khẩu hợp lý, bền vững và hiệu quả.
 
Chúng tôi đến tham quan một trong những dây chuyền lau bóng gạo chất lượng cao của Tập đoàn Tấn Vương của doanh nhân Hồ Văn Tấn

Chúng tôi đến tham quan một trong những dây chuyền lau bóng gạo chất lượng cao của Tập đoàn Tấn Vương của doanh nhân Hồ Văn Tấn

Việt Nam với hơn 97 triệu dân, mỗi năm tiêu thụ hàng triệu tấn gạo, thị trường nội địa còn rất nhiều tiềm năng để người trồng lúa cũng như DN chế biến gạo khai thác đầu tư, sản xuất, đặc biệt là gạo sạch, có thương hiệu. Thế nhưng trong những ngày đầu năm mới này, thông tin giá lúa của vụ Đông Xuân sụt giảm mạnh khiến nông dân không có lãi. Hiện lúa sau khi thu hoạch chỉ bán được 4.550 đồng/kg, giảm 500 đồng/kg so với vụ Đông Xuân năm ngoái. Thị trường tiêu thụ khó khăn, thương lái cũng không mua, còn DN cũng thiếu vốn để thu mua tạm trữ. Điều đáng nói là trong khi giá lúa thường giảm mạnh mỗi ngày thì  lúa sản xuất hữu cơ vẫn ổn định cả về thị trường tiêu thụ lẫn giá bán.

Theo Bộ Công Thương, XK gạo của Việt Nam trong thời gian qua đạt kết quả tích cực cả về lượng và giá XK cũng như cơ cấu chủng loại xuất khẩu. XK gạo 2017 đạt 5,82 triệu tấn, tăng 21% so với năm 2016, trị giá đạt khoảng 2,63 tỷ USD, tăng 22%. Giá FOB bình quân XK ở mức 452,6 USD/tấn, tăng  0,8%, tương đương mức tăng 3,7 USD/tấn so với giá XK năm 2016. Tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong năm 2018, tính đến 15-9, XK gạo đạt 4,73 triệu tấn, tăng 9,3% so với cùng kỳ 2017, trị giá đạt 2,38 tỷ USD. Giá FOB XK bình quân đạt khoảng 503,3 USD/ tấn, tăng 62,4 USD/tấn so với cùng kỳ năm trước.

Hằng năm, Việt Nam là đất nước có sản lượng xuất khẩu gạo cao thứ 3 trên thế giới, chỉ sau Ấn Độ và Thái Lan nhưng nông dân nước ta vẫn chưa thể yên tâm sản xuất. Điển hình, tại Đồng bằng sông Cửu Long, mỗi hộ canh tác 3 vụ lúa/năm chỉ thu được lợi nhuận khoảng 35-40 triệu đồng/ha. Con số này thấp hơn 2,7 lần so với Thái Lan, thấp hơn 1,5 lần so với Indonesia… Nguyên nhân là do giá trị cạnh tranh lúa gạo của nước ta còn thấp, quy mô sản xuất của nông hộ còn nhỏ, nên cơ giới hóa khó khăn, việc hình thành mối liên kết giữa DN và nông dân trong tiêu thụ sản phẩm còn chậm khiến việc thu mua và kiểm soát chất lượng gạo còn lỏng lẻo. Tỷ lệ sản xuất gạo sạch chưa cao nên giá trị hạt gạo còn thấp.

Bên cạnh người trồng lúa phải bảo đảm được quy trình sản xuất sạch, có thương hiệu và đạt tiêu chuẩn chứng nhận quốc tế. Các thị trường ngày càng có xu hướng bảo hộ rõ rệt. Đặc biệt, với mặt hàng gạo, ngoài thuế quan, các thị trường còn dựng lên các hàng rào kỹ thuật về an toàn thực phẩm, chất lượng, tiêu chuẩn, mỗi thị trường tự đưa ra tiêu chí riêng. Trong các hiệp định thương mại tự do đã ký, dù Việt Nam đạt được những dòng thuế khả quan, nhưng tuỳ thị trường mà có những quy định riêng. Chẳng hạn, đối với thị trường Liên minh Kinh tế Á - Âu, mặt hàng gạo xuất khẩu phải theo hạn ngạch. Do vậy, để đáp ứng quy định của các nước, DN bắt buộc phải nâng cao các năng lực về sản xuất, xay xát, bảo đảm chất lượng sản phẩm gạo từ khâu sản xuất đến đóng gói, bảo quản.

Song song với việc xuất khẩu, riêng thị trường nội địa vẫn là tiềm năng vô cùng to lớn đối với mặt hàng gạo. Hiện nay, khi chọn mua gạo, người tiêu dùng có xu hướng tìm hiểu khá kỹ lưỡng các thông tin trên bao bì sản phẩm như thương hiệu, tiêu chuẩn, quy trình canh tác… Đã qua cái thời “ăn đủ no, mặc đủ ấm”, mà người dân quan tâm nhiều hơn tới việc “ăn ngon, mặc đẹp”, gạo sạch giá dù giá bán cao thị trường vẫn chấp nhận mua.

Theo ông Trần Thanh Hải - Phó Cục trưởng Cục XNK Bộ Công Thương cho biết, hạt gạo Việt đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức, đặc biệt, thương mại gạo vẫn tiềm ẩn những biến động khó lường. Mặt hàng gạo là mặt hàng nhạy cảm, được nhiều nước chú trọng áp dụng các tiêu chuẩn về ATTP và về bảo vệ môi trường rất cao. Bên cạnh đó, sản phẩm thương hiệu gạo vẫn chưa được phần lớn người tiêu dùng cuối cùng tại các nước biết đến. Để gạo Việt được người tiêu dùng quốc tế biết đến, theo ông Hải, trước hết cần xây dựng các vùng chuyên canh sản xuất lúa gạo hàng hoá có chất lượng. Sản xuất theo quy trình sạnh, gạo hữu cơ, đa dạng hoá các sản phẩm chế biến từ lúa gạo. Tổ chức sản xuất theo quy trình chuẩn, đồng bộ từ khâu giống, canh tác, thu hoạch, chế biến, đóng gói. Đặc biệt, xây dựng uy tín, thương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường thế giới.
 
Trong phòng thí nghiệm của Tập đoàn Tấn Vương nơi kiểm định chất lượng gạo trước khi xuất xưởng một cách kỹ lưỡng

Trong phòng thí nghiệm của Tập đoàn Tấn Vương nơi kiểm định chất lượng gạo trước khi xuất xưởng một cách kỹ lưỡng

Mặc khác, với quy mô hơn 97 triệu dân, người Việt Nam luôn có thói quen ăn gạo hàng ngày, trong khi thị trường trong nước tràn ngập các loại gạo nhập khẩu từ Thái Lan, Campuchia, Nhật Bản…Bên cạnh đó, chất lượng gạo của các nước này cao hơn hẳn thì việc cạnh tranh trong nước càng phải được ưu tiên hàng đầu. Vì lẻ đó, cần phải xây dựng chất lượng, thương hiệu, hình ảnh gạo ngay chính tại thị trường nội địa. Nâng cao thương hiệu gạo Việt Nam không phải chỉ thị trường xuất khẩu mà còn phải quan tâm ngay chính “sân nhà”, có như vậy mới giải quyết căn cơ và bền vững đầu ra cho hạt gạo Việt.

Tác giả bài viết: Nhóm Pv ĐBSCL

Nguồn tin: nhiepanhdoisong.vn

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây